Có một tấm bằng Đại học bây giờ
không hẳn là đã đảm bảo cho bạn một tấm vé thông hành chắc chắn cho tương lai bạn
sẽ có việc làm. ĐH
Một trường tốt nhất cũng không phải một “hộp đen” để ai đi qua đó cũng đảm bảo
thành công.
Vào mỗi mùa
tuyển sinh ĐH, những thí sinh, người nhà và cả những người đi trước đều có
những suy nghĩ khác nhau về nền giáo dục nước nhà. Mỗi người trong chúng ta
nhận được rất nhiều những câu hỏi chẳng hạn như trường nào học xong sẽ dễ xin
việc. Liệu trường đại học thương mại năm nay điểm đầu vào thấp hay cao? Liệu
những trường năng khiếu sẽ thi môn gì? vv. Thoạt nghe thì đây là một câu hỏi
bình thường, nhưng nếu suy nghĩ kỹ, nó bộc lộ rất nhiều bất cập trong tâm lý xã
hội liên quan tới GD ĐH và thị trường việc làm.
Không chỉ nước ta mà tất cả các
nước trên thế giới nạn thất nghiệp luôn là nỗi ám ảnh đối với mỗi quốc gia. Gần
đây khi báo chí đưa ra con số 178.000 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp, rất nhiều
người đã sốc và cho rằng đây là một điều hết sức khủng khiếp. Song người
viết cho rằng dù con số này trong thực tế có thể cao hơn thì nó cũng không phải
là điều gì đáng ngạc nhiên
Đầu năm 2015, một nghiên cứu
mới đây cho thấy 40% sinh viên vẫn đang tìm việc làm sau 07 tháng tốt nghiệp;
và số sinh viên đã tốt nghiệp một năm nhưng chưa có việc làm vẫn chiếm tới 20%.
Nói như vậy không phải để tự an ủi hay bào chữa mà để nhìn nhận thực tế rằng
trong bối cảnh nền kinh tế thế giới chưa thoát khỏi khó khăn như hiện nay, tình
trạng thất nghiệp, kể cả đối với nhóm người đã qua đào tạo, đang là bài toán
chung của nhiều nước chứ không phải riêng VN.
Trước tình hình thực tế đó việc
“học trường nào” xem ra là vấn đề khá quan trọng và không còn là giải pháp chống
thất nghiệp hiệu quả nữa.
Trường đại học tốt nhất cũng
không phải "hộp đen". Ảnh minh họa
Thứ nhất, không thể
phủ nhận đang có sự dư thừa, chí ít là dư thừa cục bộ trong một số ngành đào
tạo. Điều này xuất phát từ việc đổ xô vào ĐH, CĐ của học sinh sau khi tốt
nghiệp THPT.
Thay vì tìm kiếm những cơ hội
việc làm khác, tâm lý phải vào ĐH bằng mọi giá khiến nhiều học sinh dù không đủ
năng lực cũng tìm cách vào ĐH. Một số người lập luận rằng dù sao một xã hội có
học có hơn, vẫn nên khuyến khích học sinh học lên cao. Thế nhưng, điều đó sẽ
chỉ đúng nếu việc học lên này nhằm phục vụ mục đích rõ ràng.
Trong khi đó, trừ số học sinh
có kết quả học tập đủ tốt để được chọn trường mình muốn, nhiều gia đình hiện
nay đang cố gắng “nhét” con cái vào một trường ĐH bất kỳ, miễn là có đi học còn
không cần biết nhu cầu đầu ra với ngành học đó thế nào.
Xuất phát từ
nhu cầu đó, các cơ sở đào tạo được mở ra ồ ạt để đáp ứng nhu cầu này. Về nhiều
vùng quê, có thể thấy cảnh nhà nhà đua nhau cho con học sư
phạm mầm non học lực trung bình thì học khá hơn thì học CĐ, ĐH sư phạm. Thử hỏi,
làm sao có đủ vị trí làm việc để đáp ứng
cho các em sau khi tốt nghiệp?
Rồi chuyện chạy chọt để vào ngành GD lại từ đó mà ra như một vòng luẩn quẩn.
Thứ hai, tư duy khởi
nghiệp của chúng ta còn yếu. Không ít phụ huynh khuyến khích con cái bắt tay
vào những dự án tiềm ẩn nhiều rủi ro, tiến hành những phép “thử và sai” đầy bấp
bênh mà chỉ mong muốn con mình ngay lập tức “ổn định” sau khi tốt nghiệp. Tâm
lý này ăn sâu, ảnh hưởng đến giới trẻ, cộng thêm những điều kiện bất lợi trong
một môi trường xã hội chưa chú trọng khuyến khích khởi nghiệp, khiến cho đa
phần sinh viên tốt nghiệp đều mong chờ tìm được những công việc sẵn có chứ hiếm
khi tự tạo được công việc cho mình. Thị trường việc làm không tăng trưởng trong
khi số lao động mới được bổ sung hàng năm thì thất nghiệp ngay cả khi có bằng
cấp là điều không quá khó hình dung.
Thứ ba, nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp có tâm lý chờ đợi một
công việc có thu nhập khá, phù hợp với ngành đào tạo thay vì chủ động ứng phó
với hoàn cảnh, tìm kiếm cơ hội nghề nghiệp ở một phạm vi rộng hơn. Nếu một kỹ
sư tốt nghiệp ngành kỹ thuật, thay vì chờ đợi cơ hội trong vô vọng, có thể làm
thợ sửa chữa, làm công nhân để tích lũy vốn và kinh nghiệm thì chính những bước
đi đầu tiên ấy sẽ cho các em rất nhiều trải nghiệm, rèn giũa các em trong sự
nghiệp lâu dài. Các em có thể học liên thông kinh tế quốc dân, hoặc
tại chức kinh tế quốc dân
Không có nghề nào là thấp kém,
cũng không có nghề nào không có hướng phát triển nếu mỗi người thật sự cố gắng.
Đủ can đảm để chấp nhận rằng tấm bằng ĐH chỉ chứng minh cho việc được trang bị
kiến thức ở bậc học cao hơn, không ỷ lại vào nó và không trói buộc mình với
chuyên ngành được ghi trên nó sẽ tốt hơn rất nhiều cho chính các em và cho bức
tranh việc làm của xã hội.
Cuối cùng, không thể không đề
cập đến một nguyên nhân sâu xa do nền kinh tế tăng trưởng thiếu chiều sâu,
không tạo ra nhiều công ăn việc làm cho xã hội. Không thiếu những địa phương ở
Việt Nam, cả vùng không tìm ra một nhà máy, xí nghiệp nào. Vậy thì nguồn nhân
lực do các trường ĐH đào tạo ra sẽ làm việc ở đâu, nhất là những sinh viên có
nguyện vọng quay trở lại quê hương làm việc?
Tất cả những vấn đề nêu trên
không phải để lẩn tránh sự yếu kém của các trường ĐH. Có thể nói chất lượng GD
ĐH và những vấn đề trên đây phải được giải quyết đồng thời thì bức tranh việc
làm trong XH mới tươi sáng hơn. Phân tích như vậy cũng để các bậc phụ huynh
thay đổi suy nghĩ trường ĐH nào sẽ giúp con em họ dễ xin việc.
Với đa số trường hợp, việc làm
đến từ chính khả năng, nhu cầu và nỗ lực của con em họ. Ngay cả một trường ĐH
tốt nhất cũng không phải một “hộp đen” để ai đi qua đó cũng đảm bảo có việc
làm. Xét từ khía cạnh nào đó, mọi trường ĐH nào cũng như nhau, chỉ có con người
là khác nhau mà thôi.
Hy vọng rằng khi xã hội dần
nhận thấy ĐH không phải là "phao cứu sinh" với cuộc đời con em mình,
mà chỉ chính các em mới quyết định được cuộc đời mình, biết đâu tình trạng này
sẽ được cải thiện?





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét